TỔNG QUAN VỀ ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO


TÊN GỌI

Đông trùng hạ thảo (Chinese caterpillar fungus), còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm Cordyceps sinensic (thuộc nhóm Ascomycetes) trên thể sâu Hepialus fabricius. Phần dược tính của đông trùng hạ thảo đã được chứng minh do các chất chiết xuất từ nấm Cordyceps sinensic.

Tên gọi "đông trùng hạ thảo" là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm Cordyceps sinensic mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn.

Riêng tên "Đông trùng hạ thảo" được ghi chép là vị thuốc xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn "Bản thảo cương mục" vào đời nhà Minh của danh ý Lý thời Trần (năm 1575), Đông trùng hạ thảo được xếp ngang với nhân sâm về công năng chữa bệnh - thuộc vào loại toàn diện nhất.

THÀNH PHẦN

Các phân tích hóa học cho thấy trong sinh khối (biomass) của đông trùng hạ thảo có 17 đến 19 loại acid amin khác nhau, có D-mannitol, có lipid, có nhiều nguyên tố vi lượng (Na, K, Ca, Mg, Al, Mn, Cu, Zn, Bo, Fe... trong đó cao nhất là phospho). Quan trọng hơn là trong sinh khối đông trùng hạ thảo có nhiều chất hoạt động sinh học là các nhà khoa học đang khám phá dần, nhờ tiến bộ của ngành hóa học các hợp chất tự nhiên.

Nhiều hoạt chất trong đông trùng hạ thảo có giá trị dược liệu thần kỳ. Trong đó phải kể đến là cordiceptic acid, cordycepin, adenosine, hydroxyethyl-adenosine. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Ethyl-Adenosine-Analogs).

Đông trùng hạ thảo còn chứa nhiều loại vitamin (trong 100g đông trùng hạ thảo có 0,12g vitamin B12; 19mg Vitamin A; 116,03mg Vitamin C, ngoài ra còn có Vitamin B2 (riboflavin), Vitamin E, Vitamin K...), ngoài ra còn có khoảng 25-30% protein, 8% chất béo và đường mannitol.

Theo Holiday và Cleaver (2004), đông trùng hạ thảo đã được sử dụng như một loại "thần dược" từ những năm 620 sau CN, vào thời nhà Đường ở Trung Quốc (618-907).

Những thông tin về loại dược liệu này được công bố đến các nhà khoa học châu Âu vào 1726, trong một hội nghị khoa học được tổ chức tại Pháp.

Mẫu vật đông trùng hạ thảo đầu tiên được đưa vào Pháp bởi một giáo sĩ, người có trải nghiệm sử dụng nấm này trong thời kỳ ông lưu trú tại hoàng cung Trung Quốc.

Năm 1994, Trung Quốc đã chính thức xếp loại đông trùng hạ thảo như một dược phẩm. Sau đó, đông trùng hạ thảo được sử dụng rất nhiều khi dịch SARS xuất hiện ở Trung Quốc năm 2003.

Gần đây, đông trùng hạ thảo được chứng minh có tác dụng trong điều trị các bệnh về tim mạch, hô hấp, gan, thận, ức chế sự hình thành khối u,... (Chen et al., 2006; Kuo, Sua, Yang, Huang, & Chen, 2006; Wang & Shiao, 2000).

No.Bioactive compoundsReferences
1CordycepinCunningham et al. (1950)
2Cordycepic acidChatterjee et al. (1957)
3N-acetylgalactosamineKawaguchi et al. (1986)
4AdenosineGuo et al. (1998)
5Ergosterol and ergosteryl estersYuan et al. (2007) 
6BioxanthracenesIsaka et al. (2001)
7HypoxanthineHuang et al. (2003)
8Acid deoxyribonucleaseYe et al. (2004)
9Polysaccharide and exopolysaccharideYu et al. (2007, 2009), Xiao et al. (2010), Yan et al. (2010)
10ChitinaseLee and Min (2003)
11Macrolides (C10H14O4)Rukachaisirikul et al. (2004)
12Cicadapeptins and myriocinKrasnoff et al. (2005)
13Superoxide dismutaseWanga et al. (2005)
14ProteaseHattori et al. (2005)
15NaphthaquinoneUnagul et al. (2005)
16CordyheptapeptideRukachaisirikul et al. (2006)
17Dipicolinic acidWatanabe et al. (2006)
18Fibrynolytical enzymeKim et al. (2006)
19LectinJung et al. (2007)
20CordyminWonga et al. (2011)

-Trích Báo cáo phân tích xu hướng công nghệ, Chuyên đề: Đồng trùng hạ thảo - công dụng, xu hướng sản xuất và thương mại - HCM 11/2014" 

Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên

Bình luận