DÙNG NHÂN SÂM AN TOÀN VÀ CÔNG HIỆU (PHẦN 3)


D. CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG NGỘP

Tác dụng dãn mạch của sapononsides ở tim (động mạch chủ) và phổi làm mạch tuần hoàn , cải thiện tình trạng ngộp tim (nhồi máu cơ tim) và ngộp não (thiểu năng tuần hoàn não).

Nhân sâm còn hạn chế tổn thương do có hoạt tính oxy-hóa của glutathion và SOD (super oxyde dismutase) (Ma CL. Chin J Pharm Txico 1993). Chúng ta biết rằng tính chống oxy hóa bảo vệ tế bào nội mô ở thành mạch máu, nơi đây tiết oxyd nitric làm dãn mạch, giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim(Mei B - Acta Pharmacol Sin 1994). Truyền dịch saponin Sâm vào tim với nồng độ 0,27mg/ml làm chậm nhịp tim và mạch sức co cơ tim, tương đương với ATP 0,01mg/ml.

- Nhân sâm làm chậm nhịp tim và giảm huyết áp, tác dụng như chất "ức chế calci". Các thử nghiệm sau đó thấy panxadiol và panaxatriol đều có ích trong chứng nhồi máu cơ tim.

- Gensinosides làm tăng tiết chất dẫn truyền thần kinh, ngăn chặn suy thoái tế bào thần kinh, giúp bảo vệ não.

- Khả năng chống ngộp do kết hợp nhiều tác dụng khác nhau. Bổ nguyên khí giúp đẩy khí tới mao mạch. Giảm cholesterol và triglycerid khiến tuần hoàn thông suốt. Dãn mạch nhờ oxyd nitric. Tính chống oxyd-hóa ngăn chặn hình thành tảng xơ vữa và thoái hóa tế bào thần kinh...

E. PHỤ NỮ VÀ NHÂN SÂM

- Thế sao phụ nữ bảo Sâm "nóng". Sâm bổ nguyên khí, làm ấm bào cung nên kinh nguyệt đến sớm ngày, phụ nữ nói nôm na là "nóng".

- Sau khi sanh, sản phụ mất sức, dùng Nhân sâm được chăng? Nhân sâm làm tăng nguy cơ xuất huyết, thế là "đấm được bên nọ nó phồng bên kia".

F. KẾT LUẬN

Vì thành phần và hàm lượng phức tạp, chưa thể đưa ra nhiều tiêu chuẩn. Không có tiêu chuẩn nên chưa thể giải thích tác dụng trái ngược khi dùng liều cao và thấp.

Nhân sâm còn nhiều tác dụng khác đang trong vòng tranh luận, đặc biệt là với bệnh tiểu đường. Trong phạm vi bài báo này, không thể trình bày hết, mong bạn đọc thông cảm.

Dùng Nhân sâm ví như đánh cờ tướng. "Bàn cờ thế", kết quả hoàn toàn phụ thuộc người chơi cờ, giải cờ đúng thì hết bệnh, "tự biên tự diễn" dễ đi vào "mê hồn trận".

Dùng Sâm lai rai có nguy cơ "lờn thuốc", sống vất vưởng mà không thể "dứt áo ra đi". An toàn nhất là chỉ dùng Sâm khi cần thiết, với lời chỉ dẫn của lương y. 

Nên nhớ rằng: Thà vô sự mà ăn cơm hẩm, còn hơn bệnh lắm mà uống sâm nhung.

G. GHI CHÚ

- Có người uống nước sắc Sâm bị đầy bụng. Sâm nóng hay lạnh, bổ âm hay bổ dương? Khi sắc Sâm, người ta cho thêm vài lát gừng để không bị đầy bụng.

- Trà Sâm làm bằng mảnh vụn và râu (rễ con) chỉ làm trà uống chơi, chẳng có tác dụng dược lý. Loại Sâm tốt nhất đựng trong bao nhôm kín, mở ra có mùi thơm đặc trưng. Củ Sâm không có hoặc ít mùi do đã hấp chín và rút bớt tinh chất, tác dụng yếu.

- Đừng kết hợp quá nhiều vị thuốc mà danh y Tần Bá Vị gọi là "chồng giường để leo lên mái nhà".

Trong nhà có Ngũ gia bì, Nhân sâm cũng muốn, Hoàng kỳ cũng ham.

 Hoàng kỳ cũng bổ khí. Thay Nhân sâm bằng Hoàng kỳ được không?

 Nhân sâm bổ khí ở tạng phủ, Hoàng kỳ bổ khí ở phần biểu; tuy cùng bổ khí nhưng mục tiêu tác dụng khác nhau.

- Trẻ em, phụ nữ có thai hoặc cho con bú không dùng Nhân sâm.

H. TƯƠNG TÁC THUỐC

- Thận trọng khi kết hợp Nhân Sâm với thuốc "chẹn beta" và "ức chế calci".

- Dùng Sâm cho bệnh nhân tiểu đường có thể làm thay đổi glucoz-huyết.

- Nhân sâm tương kỵ với thuốc chống đông máu.

- Uống Nhân sâm với trà hoặc cà phê gây kích thích thần kinh quá độ.

- Không kết hợp với các thuốc IMAO.

Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên

Bình luận